Ngành chăn nuôi của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng; tuy nhiên, ngành này vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Ước tính khoảng 65% tổng nhu cầu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của cả nước được đáp ứng thông qua nhập khẩu (Cục Chăn nuôi Sản xuất và Sức khỏe, 2025). Sự phụ thuộc này làm suy giảm hiệu quả sản xuất do chi phí đầu vào tăng cao. Do đó, việc xác định và sử dụng các nguồn thức ăn thay thế, sẵn có tại địa phương đã trở thành một yêu cầu chiến lược. Trong số các phương pháp khả thi là khai thác hiệu quả các nguyên liệu thức ăn trong nước, đặc biệt là các sản phẩm phụ nông nghiệp, nhất là những sản phẩm được tạo ra từ ngành chế biến trái cây, như các nguồn thức ăn thay thế tiềm năng.
Các sản phẩm phụ từ trái cây như vỏ, bã, rễ, thân và lá chiếm khoảng 40 - 50% tổng lượng phế phẩm nông nghiệp (Vastolo et al., 2022). Các sản phẩm phụ này giàu carbohydrate, protein, chất xơ, khoáng chất và các hợp chất sinh học như polyphenol, có thể cải thiện chức năng dạ cỏ, tiêu hóa, phản ứng miễn dịch và sản lượng sữa ở động vật nhai lại (Sharma et al., 2016; Tayengwa et al., 2018; Mahmoud Abdel Gawad et al., 2020; Branciari et al., 2021). Các rào cản chính trong việc sử dụng sản phẩm phụ từ trái cây làm thức ăn chăn nuôi là hàm lượng nước cao và sự biến đổi trong thành phần dinh dưỡng, gây khó khăn cho vận chuyển, bảo quản và phối trộn khẩu phần chứa các sản phẩm phụ này (Martı́n Garcı́a et al., 2016; Yang et al., 2021).
Ép viên cỏ xanh hoặc phụ phẩm trái cây mang lại nhiều lợi ích, như tăng mật độ khối lượng để giảm chi phí vận chuyển, cải thiện hiệu suất động vật, giảm lãng phí thức ăn và ăn chọn lọc, thuận tiện trong việc xử lý, và giảm tải vi sinh vật gây bệnh thông qua xử lý nhiệt (Sokhansanj & Turhollow, 2004). Tuy nhiên, do quá trình ép viên bao gồm nhiều giai đoạn có thể gây vỡ viên trong quá trình sản xuất, vận chuyển và lưu trữ, việc sử dụng chất kết dính là cần thiết. Chất kết dính viên là các chất được thêm vào nguyên liệu thức ăn để tăng cường độ kết dính và duy trì tính toàn vẹn của viên (Saade & Aslamyah, 2009). Rỉ mật và tinh bột là hai chất kết dính tự nhiên phổ biến trong sản xuất thức ăn viên. Mật mía tăng cường độ bền của viên thức ăn nhờ độ nhớt và đường hòa tan (Thomas et al., 1998; Kaliyan & Morey, 2010), trong khi tinh bột hoạt động thông qua quá trình gelatin hóa, tạo ra mạng lưới gel liên kết các hạt thức ăn (Thomas & van der Poel, 1996; Susilawati et al., 2012). Trong nghiên cứu này, rỉ mật và tinh bột sắn được sử dụng làm chất kết dính tự nhiên trong thức ăn viên được pha chế từ phụ phẩm trái cây.
Nghiên cứu này đã đánh giá tác động của loại chất kết dính (rỉ mật và bột sắn) và mức độ bổ sung (5% và 10%) đối với các đặc tính vật lý và dinh dưỡng của thức ăn viên cho gia súc nhai lại được chế biến từ vỏ dứa và vỏ chanh dây. Bốn công thức được đánh giá: 5% rỉ mật, 10% rỉ mật, 5% bột sắn và 10% bột sắn, mỗi công thức được lặp lại ba lần trong thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn. Kết quả cho thấy viên thức ăn có 10% rỉ mật có độ bền cao nhất (95,67%), mật độ cao (475,72 mg/ml), hàm lượng đường (18,44%) và saponin (9,47%) cao, cùng với nồng độ các axit amin quan trọng như lysine (1,29%) và glutamic acid (3,12%) được cải thiện.. Ngược lại, công thức bột sắn 10% cho độ bền viên nén thấp nhất (92,11%), mật độ (468,06 mg/ml) và hàm lượng axit amin, đặc biệt là lysine (0,47%) và axit aspartic (1,01%). Như vậy, rỉ mật, đặc biệt ở mức 10%, đã chứng minh hiệu quả hơn bột sắn trong việc nâng cao cả chất lượng vật lý và giá trị dinh dưỡng của viên thức ăn từ phụ phẩm trái cây. Kết quả này nhấn mạnh tiềm năng của việc sử dụng phụ phẩm chế biến trái cây kết hợp với chất kết dính tự nhiên để sản xuất thức ăn viên bền vững, tiết kiệm chi phí cho hệ thống chăn nuôi gia súc nhai lại.
Kết quả trong nghiên cứu đã được đăng tải trên tạp chí Khoa học nông nghiệp Việt Nam; VJAS 2025; (8(3): 2642- 2649. https://doi.org/10.31817/vjas.2025.8.3.06
    |
 |
| Hình 1: Phụ phẩm vỏ chanh leo và vỏ dứa thu thập được từ nhà mày chế biến trái cây |
    |
 |
| Hình 2: Phối trộn nguyên liệu và sản xuất thức ăn viên |
    |
 |
| Hình 3: Bốn công thức thức ăn viên được sản xuất |
Th.S. Bùi Thị Bích - Khoa Chăn nuôi